Thời Sự
Ngôi chùa lưu giữ bộ kinh Phật 'độc nhất vô nhị'
📅 12/4/2026👁️ 4 lượt xem⏱️ 9 phút đọc

Chùa Thập Tháp hơn 300 năm lưu giữ bộ Đại tạng kinh Gia Hưng với gần 5.000 quyển và hệ thống mộc bản gồm 833 ván khắc, niên đại từ thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20.
Chùa nằm ở thôn Vạn Thuận, phường An Nhơn Bắc, khu vực gắn với không gian thành Đồ Bàn xưa của Champa, thuộc thị xã An Nhơn, Bình Định cũ. Chùa do thiền sư Nguyễn Thiều - Siêu Bạch, thuộc phái Lâm Tế, khai sơn năm 1677, đến nay 349 năm.
Chùa Thập Tháp nơi lưu giữ Gia Hưng tạng hơn 300 năm. Ảnh:
Trần Hóa
Từ một ngôi chùa do vị cao tăng Trung Hoa lập nên, Thập Tháp dần trở thành một trong những tổ đình quan trọng của Phật giáo miền Trung, có ảnh hưởng lớn về tôn giáo, tu học và truyền thừa.
Ngay từ buổi đầu, thiền sư Nguyễn Thiều đã tiếp nhận và lưu giữ đại tạng kinh để tăng ni nghiên cứu, hành trì, giảng dạy, sao chép và truyền bá Phật pháp trong cộng đồng. Ngôi chùa dần trở thành nơi hội tụ khối lượng lớn tư liệu Phật giáo Hán văn có giá trị đối với lịch sử Phật giáo Việt Nam và khu vực Đông Á.
Di sản tư liệu nổi bật nhất tại chùa là bộ Đại tạng kinh Gia Hưng (Gia Hưng tạng) - một trong những bộ tạng kinh có quy mô lớn, nội dung phong phú và thời gian khắc in kéo dài bậc nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa và Đông Á.
Gia Hưng tạng được khởi khắc ở Trung Quốc từ cuối thời Minh. Công việc bắt đầu năm 1588, kéo dài qua nhiều giai đoạn và cơ bản hoàn thành vào năm 1677, dưới thời Khang Hy nhà Thanh.
Trong lịch sử Phật giáo Đông Á, đây là bộ tạng kinh có quy mô lớn, được đánh giá cao không chỉ vì số lượng văn bản đồ sộ mà còn bởi tính chất "mở" của quá trình nhập tạng. Sau phần khắc in chính, nhiều trước tác khác, đặc biệt là các loại ngữ lục, tiếp tục được bổ sung vào hệ thống tạng kinh.
Điều này khiến Gia Hưng tạng không chỉ là tập đại thành kinh - luật - luận, mà còn là kho tư liệu phong phú, phản ánh đời sống tư tưởng và học thuật Phật giáo Trung Hoa từ Tống đến Minh - Thanh.
Theo tiến sĩ Nguyễn Tô Lan, nghiên cứu viên cao cấp Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học và Xã hội Việt Nam, bộ Gia Hưng tạng tại chùa Thập Tháp hiện có 1.377 tập, thuộc 479 bộ, tổng cộng 4.826 quyển, được chia thành nhiều nhóm như Kinh, Luật, Luận, Ngữ lục và sử truyện Phật giáo.
"Sau hơn 300 năm bảo quản và sử dụng tại chùa, bộ kinh còn tương đối nguyên vẹn, duy nhất tại Việt Nam. Do đó, chúng tôi gọi bộ Gia Hưng tạng tại chùa Thập Tháp là độc nhất vô nhị", bà Lan nói.
Sự tồn tại của bộ kinh cho thấy chùa Thập Tháp không chỉ là cơ sở tín ngưỡng hay nơi tu trì, mà còn từng là trung tâm lưu giữ kinh điển, gắn với truyền thống học Phật và truyền bá giáo lý của miền Trung.
Bộ Gia Hưng tạng có thể xem là dấu mốc vật chất phản ánh quá trình phục hưng và phát triển của Phật giáo Bình Định từ cuối thế kỷ 17 trở đi. Đây không chỉ là minh chứng cho sự tiếp nhận kinh điển Phật giáo từ Trung Hoa vào Đàng Trong, mà còn cho thấy khả năng tiếp biến, lưu giữ và phát huy giá trị ấy trong môi trường văn hóa - tôn giáo bản địa.
Trong bối cảnh nhiều bộ kinh Hán văn từ thời Lý - Trần đã thất truyền, sự tồn tại của Gia Hưng tạng tại chùa Thập Tháp càng trở nên đặc biệt hiếm quý.
Đáng chú ý, phần Ngữ lục trong Gia Hưng tạng có giá trị học thuật rất lớn, ghi chép lời dạy, đối thoại, hành trạng, thơ văn và tư tưởng của các thiền sư, nhất là trong truyền thống Thiền tông từ thời Tống, Nguyên, Minh đến Thanh.
Không chỉ lưu giữ kinh sách, chùa Thập Tháp còn bảo tồn hệ thống mộc bản phục vụ in ấn với 833 ván khắc, tương ứng 1.409 mặt khắc, có niên đại từ thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20. Những ván khắc cho thấy nơi đây từng là trung tâm in ấn, truyền bá Phật giáo quan trọng của khu vực Nam Trung Bộ.
Mộc bản đồ họa - một trong bảy mặt ván khắc đóng vai trò "phi họa" (tranh mở đầu) cho 7 quyển của "Diệu pháp liên hoa kinh" hiện lưu giữ tại chùa Thập Tháp. Ảnh:
Nguyễn Đình Hưng
Các nhà nghiên cứu đánh giá đây là khối tư liệu vật thể đặc biệt giá trị, bởi mộc bản không chỉ là phương tiện kỹ thuật để in kinh sách mà còn là bằng chứng trực tiếp cho thấy truyền thống sản xuất, truyền bá và bảo tồn tri thức Phật giáo từng hiện diện tại địa phương.
Trong lịch sử Phật giáo, khắc in kinh điển luôn được xem là hoạt động có công đức lớn. Sự phát triển của kỹ thuật in mộc bản giúp kinh sách được sao in với số lượng lớn hơn, góp phần mở rộng khả năng lưu hành trong tự viện và cộng đồng phật tử.
Tiến sĩ Nguyễn Huỳnh Huyện, Phó ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai, cho rằng việc bảo tồn cần đi cùng phát huy giá trị. Theo đó, cần sớm số hóa bộ kinh, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu chuyên sâu để làm rõ hơn giá trị lịch sử, văn hóa và học thuật.
Trần Hóa
Chùa Thập Tháp nơi lưu giữ Gia Hưng tạng hơn 300 năm. Ảnh:
Trần Hóa
Từ một ngôi chùa do vị cao tăng Trung Hoa lập nên, Thập Tháp dần trở thành một trong những tổ đình quan trọng của Phật giáo miền Trung, có ảnh hưởng lớn về tôn giáo, tu học và truyền thừa.
Ngay từ buổi đầu, thiền sư Nguyễn Thiều đã tiếp nhận và lưu giữ đại tạng kinh để tăng ni nghiên cứu, hành trì, giảng dạy, sao chép và truyền bá Phật pháp trong cộng đồng. Ngôi chùa dần trở thành nơi hội tụ khối lượng lớn tư liệu Phật giáo Hán văn có giá trị đối với lịch sử Phật giáo Việt Nam và khu vực Đông Á.
Di sản tư liệu nổi bật nhất tại chùa là bộ Đại tạng kinh Gia Hưng (Gia Hưng tạng) - một trong những bộ tạng kinh có quy mô lớn, nội dung phong phú và thời gian khắc in kéo dài bậc nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa và Đông Á.
Gia Hưng tạng được khởi khắc ở Trung Quốc từ cuối thời Minh. Công việc bắt đầu năm 1588, kéo dài qua nhiều giai đoạn và cơ bản hoàn thành vào năm 1677, dưới thời Khang Hy nhà Thanh.
Trong lịch sử Phật giáo Đông Á, đây là bộ tạng kinh có quy mô lớn, được đánh giá cao không chỉ vì số lượng văn bản đồ sộ mà còn bởi tính chất "mở" của quá trình nhập tạng. Sau phần khắc in chính, nhiều trước tác khác, đặc biệt là các loại ngữ lục, tiếp tục được bổ sung vào hệ thống tạng kinh.
Điều này khiến Gia Hưng tạng không chỉ là tập đại thành kinh - luật - luận, mà còn là kho tư liệu phong phú, phản ánh đời sống tư tưởng và học thuật Phật giáo Trung Hoa từ Tống đến Minh - Thanh.
Theo tiến sĩ Nguyễn Tô Lan, nghiên cứu viên cao cấp Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học và Xã hội Việt Nam, bộ Gia Hưng tạng tại chùa Thập Tháp hiện có 1.377 tập, thuộc 479 bộ, tổng cộng 4.826 quyển, được chia thành nhiều nhóm như Kinh, Luật, Luận, Ngữ lục và sử truyện Phật giáo.
"Sau hơn 300 năm bảo quản và sử dụng tại chùa, bộ kinh còn tương đối nguyên vẹn, duy nhất tại Việt Nam. Do đó, chúng tôi gọi bộ Gia Hưng tạng tại chùa Thập Tháp là độc nhất vô nhị", bà Lan nói.
Sự tồn tại của bộ kinh cho thấy chùa Thập Tháp không chỉ là cơ sở tín ngưỡng hay nơi tu trì, mà còn từng là trung tâm lưu giữ kinh điển, gắn với truyền thống học Phật và truyền bá giáo lý của miền Trung.
Bộ Gia Hưng tạng có thể xem là dấu mốc vật chất phản ánh quá trình phục hưng và phát triển của Phật giáo Bình Định từ cuối thế kỷ 17 trở đi. Đây không chỉ là minh chứng cho sự tiếp nhận kinh điển Phật giáo từ Trung Hoa vào Đàng Trong, mà còn cho thấy khả năng tiếp biến, lưu giữ và phát huy giá trị ấy trong môi trường văn hóa - tôn giáo bản địa.
Trong bối cảnh nhiều bộ kinh Hán văn từ thời Lý - Trần đã thất truyền, sự tồn tại của Gia Hưng tạng tại chùa Thập Tháp càng trở nên đặc biệt hiếm quý.
Đáng chú ý, phần Ngữ lục trong Gia Hưng tạng có giá trị học thuật rất lớn, ghi chép lời dạy, đối thoại, hành trạng, thơ văn và tư tưởng của các thiền sư, nhất là trong truyền thống Thiền tông từ thời Tống, Nguyên, Minh đến Thanh.
Không chỉ lưu giữ kinh sách, chùa Thập Tháp còn bảo tồn hệ thống mộc bản phục vụ in ấn với 833 ván khắc, tương ứng 1.409 mặt khắc, có niên đại từ thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20. Những ván khắc cho thấy nơi đây từng là trung tâm in ấn, truyền bá Phật giáo quan trọng của khu vực Nam Trung Bộ.
Mộc bản đồ họa - một trong bảy mặt ván khắc đóng vai trò "phi họa" (tranh mở đầu) cho 7 quyển của "Diệu pháp liên hoa kinh" hiện lưu giữ tại chùa Thập Tháp. Ảnh:
Nguyễn Đình Hưng
Các nhà nghiên cứu đánh giá đây là khối tư liệu vật thể đặc biệt giá trị, bởi mộc bản không chỉ là phương tiện kỹ thuật để in kinh sách mà còn là bằng chứng trực tiếp cho thấy truyền thống sản xuất, truyền bá và bảo tồn tri thức Phật giáo từng hiện diện tại địa phương.
Trong lịch sử Phật giáo, khắc in kinh điển luôn được xem là hoạt động có công đức lớn. Sự phát triển của kỹ thuật in mộc bản giúp kinh sách được sao in với số lượng lớn hơn, góp phần mở rộng khả năng lưu hành trong tự viện và cộng đồng phật tử.
Tiến sĩ Nguyễn Huỳnh Huyện, Phó ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai, cho rằng việc bảo tồn cần đi cùng phát huy giá trị. Theo đó, cần sớm số hóa bộ kinh, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu chuyên sâu để làm rõ hơn giá trị lịch sử, văn hóa và học thuật.
Trần Hóa







