Thể Thao
Lucescu - 'Áng sáng' đã tắt của bóng đá Romania
📅 8/4/2026👁️ 1 lượt xem⏱️ 18 phút đọc

HLV Mircea Lucescu, một trong những biểu tượng vĩ đại của bóng đá Romania, qua đời đêm 7/4 tại Bệnh viện Đại học Bucharest, hưởng thọ 80 tuổi.
"Lucescu là một trong những cầu thủ và HLV giàu thành tích nhất lịch sử Romania. Ông là người đầu tiên đưa ĐTQG lọt vào vòng chung kết Euro, năm 1984. Nhiều thế hệ người dân Romania đã lớn lên với hình bóng ông trong tim như một biểu tượng quốc gia. Cầu Chúa phù hộ cho ông!", thông cáo từ bệnh viện về sự ra đi của huyền thoại này có đoạn.
Lucescu qua đời chỉ vài ngày sau khi rời ghế HLV trưởng tuyển Romania. Trước đó, chỉ trong vài giờ sau khi từ chức, nhà cầm quân này còn trải qua hai cơn nhồi máu cơ tim liên tiếp. Tính từ tháng 12 năm ngoái, ông đã phải nhập viện ba lần.
Được mệnh danh là "Il Luce" (Ánh sáng) để tôn vinh tư duy chiến thuật tài ba, Lucescu có được vị thế tượng đài của bóng đá Romania suốt nhiều thập kỷ, dù luôn sống trong môi trường thể thao đầy rẫy áp lực và biến động. Ở mọi nơi từng đi qua, Lucescu luôn để lại dấu ấn sâu đậm, đặc biệt là trên băng ghế huấn luyện.
Sinh ngày 29/7/1945 tại Bucharest trong những ngày cuối cùng của Thế chiến thứ hai, Lucescu dành phần lớn sự nghiệp quần đùi áo số ở Dinamo Bucharest. Với nhãn quan sắc sảo ở vị trí tiền đạo cánh phải, ông đã thi đấu hơn 250 trận, giành 7 chức VĐQG và hai Cup Quốc gia Romania.
Với ĐTQG, ông đá 70 trận và mang băng thủ quân tại World Cup 1970, đánh dấu sự trở lại của Romania sau 32 năm vắng bóng. Ở giải đấu trên đất Mexico năm đó, Lucescu đã có khoảnh khắc đổi áo để đời với huyền thoại Pele, mà về sau ông khẳng định là chưa bao giờ giặt chiếc áo ấy.
Khoảnh khắc Mircea Lucescu (trái) đổi áo đấu cùng Pele ở World Cup 1970. Ảnh: Tư liệu FIFA
Lucescu bắt đầu cầm quân từ năm 1979 tại Corvinul Hunedoara trong vai trò cầu thủ kiêm HLV. Hai năm sau đó, ông được bổ nhiệm làm HLV trưởng tuyển Romania và nhanh chóng giúp đội nhà lần đầu góp mặt tại một kỳ Euro, năm 1984.
Chính trong giai đoạn này, Lucescu đã trình làng cậu thiếu niên 18 tuổi Gheorghe Hagi, người sau này trở thành cầu thủ vĩ đại nhất lịch sử bóng đá Romania, khoác áo cả Real Madrid lẫn Barca. Lucescu tại vị đến năm 1986, đặt nền móng vững chắc giúp Romania góp mặt trong ba kỳ World Cup liên tiếp là 1990, 1994 và 1998, cũng như các kỳ Euro 1996 và 2000.
Với Lucescu, huấn luyện không chỉ là sắp xếp đội hình, mà là giúp cầu thủ thấu hiểu căn nguyên của từng đường chuyền, từng quyết định trên sân cỏ. Ông là một trong những nhà cầm quân từ Đông Âu đầu tiên áp dụng các phương pháp huấn luyện hiện đại, chú trọng vào tâm lý học và mối quan hệ mật thiết giữa cầu thủ với ban huấn luyện.
Lucescu thiết lập kỷ luật trong các tập thể dưới quyền không dựa trên sự sợ hãi, mà bằng sự tôn trọng. Đây là triết lý đưa ông trở thành một trong những HLV xuất sắc và được nể trọng nhất lục địa già.
"Bất kỳ ai có thái độ tiêu cực đều không có chỗ trong đội của tôi", Lucescu từng nói trên báo Tây Ban Nha
El Pais
. "Quan niệm về kỷ luật của tôi là đối thoại. Tôi không phạt tiền cầu thủ, tôi nói chuyện với họ một lần, hai lần rồi ba lần. Tôi muốn có tiếng nói cuối cùng trong việc chuyển nhượng và tôi tìm kiếm những người có cá tính, sự thông minh và tinh thần trách nhiệm. Về khâu chuẩn bị, nhiều người huấn luyện bằng các bài tập, còn tôi huấn luyện bằng các nguyên tắc".
Sau khi xây dựng một tập thể Dinamo Bucharest thống trị các giải quốc nội giai đoạn 1985-1990, Lucescu sang Italy thử sức tại Pisa, Brescia, Reggiana và cả Inter Milan. Ở đất nước hình chiếc ủng, ông không chỉ mang về kết quả mà còn để lại một tư duy chơi bóng hiện đại. Chính Lucescu là người đã đôn Andrea Pirlo lên từ đội trẻ khi anh mới 15 tuổi và cho tiền vệ này ra mắt Brescia vào ngày 21/05/1995. Sau này, trong cuốn tự truyện
Penso quindi gioco
(Tôi tư duy, nghĩa là tôi chơi bóng), Pirlo miêu tả Lucescu là người thầy vĩ đại của anh.
Tại Brescia, Lucescu gắn bó suốt 5 mùa giải, và đến giờ, người hâm mộ nơi đây vẫn tôn sùng ông. Họ yêu quý Lucescu không chỉ vì triết lý bóng đá mà còn bởi tính cách tinh quái, sắc sảo đầy thú vị.
"Ông ấy là HLV lý tưởng cho bất kỳ CLB nào muốn kiếm tiền, vì Lucescu là bậc thầy trong việc biến những cậu nhóc tiềm năng thành các ngôi sao thực thụ. Không ai có thể so sánh với ông ấy, bởi Lucescu vừa đào tạo trẻ giỏi, vừa đảm bảo được thành tích, điều vốn dĩ không hề bắt buộc khi làm việc với các cầu thủ trẻ", cố Chủ tịch Brescia Gino Corioni và cũng là bạn thân của Lucescu, từng kể.
Trong mắt các học trò những năm 1990, ngoài ấn tượng về sự điềm tĩnh và chuẩn mực, Lucescu còn đi trước thời đại trong khâu chuẩn bị cho trận đấu và nghiên cứu đối thủ. "Trước trận tứ kết Champions League với Man Utd năm 1999, ông ấy phát cho mỗi chúng tôi hai cuốn băng video để về nhà nghiên cứu. Vào thời ấy, đó là một điều cực kỳ mới mẻ", cựu thủ môn Inter Gianluca Pagliuca kể.
Lucescu trong thời gian còn dẫn dắt tuyển Romania. Ảnh:
AFP
Sau Italy, Lucescu sang Thổ Nhĩ Kỳ, tiếp quản di sản của Fatih Terim tại Galatasaray và ngay lập tức đánh bại Real Madrid của những Raul Gonzalez và Luis Figo để giành Siêu Cup châu Âu. Năm 2002, ông lập kỳ tích khi đưa Besiktas lên ngôi vô địch, trở thành HLV ngoại đầu tiên vô địch Thổ Nhĩ Kỳ với hai đội bóng kình địch cùng thành phố Istanbul. Người hâm mộ Thổ Nhĩ Kỳ tôn thờ Lucescu bởi sự lịch lãm, điềm tĩnh trước áp lực và trí tuệ.
Năm 2004, Lucescu cập bến Shakhtar Donetsk khi lọt vào mắt xanh của tỷ phú Rinat Akhmetov. "Ông ấy đã cố chiêu mộ tôi ba lần và lần nào tôi cũng từ chối", Lucescu kể lại trên báo Italy
Gazzetta dello Sport
. "Đến lần thứ tư, ông ấy cử chuyên cơ riêng tới đón. Khi vừa hạ cánh xuống Donetsk, ông ấy giới thiệu tôi luôn là tân HLV đội bóng. Tôi còn biết làm gì khác đây!".
Nhưng lúc đó, ít ai tin rằng Lucescu có thể biến đội bóng vùng mỏ ở miền đông Ukraine thành thế lực tại trời Âu. Nhưng ông đã làm được điều đó cho Shakhtar bằng chiến lược táo bạo: chiêu mộ các tài năng trẻ Brazil, rèn giũa họ về mặt chiến thuật để tạo nên một tập thể "nhảy Samba trên nhịp điệu Đông Âu".
Tình cảm của Lucescu dành cho bóng đá lẫn các cầu thủ Brazil đã nảy nở từ dịp Giáng sinh 1967. Bấy giờ, ông vẫn còn là một tiền đạo cánh 22 tuổi. Sau một trận giao hữu tại Congo, khi chuẩn bị bay về Romania, ông nhận được lệnh khẩn khi lên chuyến bay dài sang Brazil để hội quân cùng ĐTQG trong chuyến du đấu Nam Mỹ.
"Tôi đã đi dọc Brazil từ Nam chí Bắc, từ Porto Alegre đến Fortaleza", Lucescu kể lại năm 2013 về cú sốc văn hóa trong cuộc phỏng vấn trên tạp chí Pháp
France Football
. "Đó là trải nghiệm không thể tin nổi. Hãy tưởng tượng sự ngưỡng mộ và mê hoặc mà một chàng trai đến từ một quốc gia Đông Âu cảm thấy khi đặt chân đến một thế giới mà trước đó anh ta chỉ biết qua bản đồ"
"Tôi đã khám phá ra bản chất của con người Brazil, chính là bóng đá, samba, bãi biển và tình dục. Tôi hiểu tại sao bấy nhiêu đó là đủ để họ sống hạnh phúc. Mọi thứ đều xoay quanh những điều ấy. Và tôi cũng không thể quên Brahma Chopp, loại bia tuyệt vời nhất ở đó. Sau này, tôi vẫn thường uống nó cùng Ronaldo de Lima khi dẫn dắt cậu ấy tại Inter cuối những năm 1990", Lucescu kể.
Mircea Lucescu (trái) nâng cao chiếc Cup UEFA cùng chủ sở hữu Shakhtar Donetsk Rinat Akhmetov, sau khi đánh bại Werder Bremen trong trận chung kết năm 2009. Ảnh:
Reuters
Shakhtar thời Lucescu luôn là đối thủ khó nhằn tại Champions League, với lối chơi tấn công biến hóa như tắc kè hoa. Ông linh hoạt áp dụng nhiều sơ đồ chiến thuật, buộc các cầu thủ phải tư duy về nhiều cách chơi khác nhau. Trong 12 năm gắn bó, ông mang về cho Shakhtar 22 danh hiệu, trong đó có 8 chức VĐQG và đỉnh cao chiếc Cup UEFA 2009. Dưới bàn tay nhào nặn của Lucescu, những Fernandinho, Willian hay Douglas Costa đều vươn tầm thế giới.
Ngay cả khi xung đột nổ ra tại Ukraine năm 2014 buộc đội bóng phải di tản, Lucescu vẫn tiếp tục giúp Shakhtar chiến thắng. Sau đó, ông dẫn dắt Zenit và ĐTQG Thổ Nhĩ Kỳ một thời gian ngắn, rồi gây sốc khi ký hợp đồng với Dinamo Kiev - đối trọng lớn nhất của Shakhtar - vào năm 2020 và lập tức đưa họ lên ngôi vô địch Ukraine.
Tình yêu bóng đá của Lucescu lớn đến mức ông không thể chấp nhận thất bại hay bỏ cuộc. Trước thềm chung kết play-off tranh vé vớt World Cup 2026 giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Romania, Lucescu còn tâm sự với báo Anh
Guardian
rằng dẫn dắt ĐTQG là "
trách nhiệm thiêng liêng
", và dù sức khỏe bấy giờ không được tốt, ông không thể rời đi như một kẻ hèn nhát.
Truyền thông Romania cho biết, việc không thể đưa Romania trở lại World Cup sau trận thua 0-1 đó đã khiến Lucescu tức giận tột độ. Đây cũng được cho là tác nhân chính dẫn đến những biến cố sức khỏe cuối cùng.
"Bóng đá Romania không chỉ mất đi một nhà chiến thuật lỗi lạc, mà còn mất đi một người thầy, một người có tầm nhìn xa trông rộng và một biểu tượng quốc gia, người đã đưa màu cờ sắc áo của chúng ta lên những đỉnh cao của thành công thế giới", LĐBĐ Romania viết trong thông báo về sự ra đi của Lucescu.
Hoàng Thông
tổng hợp
Lucescu qua đời chỉ vài ngày sau khi rời ghế HLV trưởng tuyển Romania. Trước đó, chỉ trong vài giờ sau khi từ chức, nhà cầm quân này còn trải qua hai cơn nhồi máu cơ tim liên tiếp. Tính từ tháng 12 năm ngoái, ông đã phải nhập viện ba lần.
Được mệnh danh là "Il Luce" (Ánh sáng) để tôn vinh tư duy chiến thuật tài ba, Lucescu có được vị thế tượng đài của bóng đá Romania suốt nhiều thập kỷ, dù luôn sống trong môi trường thể thao đầy rẫy áp lực và biến động. Ở mọi nơi từng đi qua, Lucescu luôn để lại dấu ấn sâu đậm, đặc biệt là trên băng ghế huấn luyện.
Sinh ngày 29/7/1945 tại Bucharest trong những ngày cuối cùng của Thế chiến thứ hai, Lucescu dành phần lớn sự nghiệp quần đùi áo số ở Dinamo Bucharest. Với nhãn quan sắc sảo ở vị trí tiền đạo cánh phải, ông đã thi đấu hơn 250 trận, giành 7 chức VĐQG và hai Cup Quốc gia Romania.
Với ĐTQG, ông đá 70 trận và mang băng thủ quân tại World Cup 1970, đánh dấu sự trở lại của Romania sau 32 năm vắng bóng. Ở giải đấu trên đất Mexico năm đó, Lucescu đã có khoảnh khắc đổi áo để đời với huyền thoại Pele, mà về sau ông khẳng định là chưa bao giờ giặt chiếc áo ấy.
Khoảnh khắc Mircea Lucescu (trái) đổi áo đấu cùng Pele ở World Cup 1970. Ảnh: Tư liệu FIFA
Lucescu bắt đầu cầm quân từ năm 1979 tại Corvinul Hunedoara trong vai trò cầu thủ kiêm HLV. Hai năm sau đó, ông được bổ nhiệm làm HLV trưởng tuyển Romania và nhanh chóng giúp đội nhà lần đầu góp mặt tại một kỳ Euro, năm 1984.
Chính trong giai đoạn này, Lucescu đã trình làng cậu thiếu niên 18 tuổi Gheorghe Hagi, người sau này trở thành cầu thủ vĩ đại nhất lịch sử bóng đá Romania, khoác áo cả Real Madrid lẫn Barca. Lucescu tại vị đến năm 1986, đặt nền móng vững chắc giúp Romania góp mặt trong ba kỳ World Cup liên tiếp là 1990, 1994 và 1998, cũng như các kỳ Euro 1996 và 2000.
Với Lucescu, huấn luyện không chỉ là sắp xếp đội hình, mà là giúp cầu thủ thấu hiểu căn nguyên của từng đường chuyền, từng quyết định trên sân cỏ. Ông là một trong những nhà cầm quân từ Đông Âu đầu tiên áp dụng các phương pháp huấn luyện hiện đại, chú trọng vào tâm lý học và mối quan hệ mật thiết giữa cầu thủ với ban huấn luyện.
Lucescu thiết lập kỷ luật trong các tập thể dưới quyền không dựa trên sự sợ hãi, mà bằng sự tôn trọng. Đây là triết lý đưa ông trở thành một trong những HLV xuất sắc và được nể trọng nhất lục địa già.
"Bất kỳ ai có thái độ tiêu cực đều không có chỗ trong đội của tôi", Lucescu từng nói trên báo Tây Ban Nha
El Pais
. "Quan niệm về kỷ luật của tôi là đối thoại. Tôi không phạt tiền cầu thủ, tôi nói chuyện với họ một lần, hai lần rồi ba lần. Tôi muốn có tiếng nói cuối cùng trong việc chuyển nhượng và tôi tìm kiếm những người có cá tính, sự thông minh và tinh thần trách nhiệm. Về khâu chuẩn bị, nhiều người huấn luyện bằng các bài tập, còn tôi huấn luyện bằng các nguyên tắc".
Sau khi xây dựng một tập thể Dinamo Bucharest thống trị các giải quốc nội giai đoạn 1985-1990, Lucescu sang Italy thử sức tại Pisa, Brescia, Reggiana và cả Inter Milan. Ở đất nước hình chiếc ủng, ông không chỉ mang về kết quả mà còn để lại một tư duy chơi bóng hiện đại. Chính Lucescu là người đã đôn Andrea Pirlo lên từ đội trẻ khi anh mới 15 tuổi và cho tiền vệ này ra mắt Brescia vào ngày 21/05/1995. Sau này, trong cuốn tự truyện
Penso quindi gioco
(Tôi tư duy, nghĩa là tôi chơi bóng), Pirlo miêu tả Lucescu là người thầy vĩ đại của anh.
Tại Brescia, Lucescu gắn bó suốt 5 mùa giải, và đến giờ, người hâm mộ nơi đây vẫn tôn sùng ông. Họ yêu quý Lucescu không chỉ vì triết lý bóng đá mà còn bởi tính cách tinh quái, sắc sảo đầy thú vị.
"Ông ấy là HLV lý tưởng cho bất kỳ CLB nào muốn kiếm tiền, vì Lucescu là bậc thầy trong việc biến những cậu nhóc tiềm năng thành các ngôi sao thực thụ. Không ai có thể so sánh với ông ấy, bởi Lucescu vừa đào tạo trẻ giỏi, vừa đảm bảo được thành tích, điều vốn dĩ không hề bắt buộc khi làm việc với các cầu thủ trẻ", cố Chủ tịch Brescia Gino Corioni và cũng là bạn thân của Lucescu, từng kể.
Trong mắt các học trò những năm 1990, ngoài ấn tượng về sự điềm tĩnh và chuẩn mực, Lucescu còn đi trước thời đại trong khâu chuẩn bị cho trận đấu và nghiên cứu đối thủ. "Trước trận tứ kết Champions League với Man Utd năm 1999, ông ấy phát cho mỗi chúng tôi hai cuốn băng video để về nhà nghiên cứu. Vào thời ấy, đó là một điều cực kỳ mới mẻ", cựu thủ môn Inter Gianluca Pagliuca kể.
Lucescu trong thời gian còn dẫn dắt tuyển Romania. Ảnh:
AFP
Sau Italy, Lucescu sang Thổ Nhĩ Kỳ, tiếp quản di sản của Fatih Terim tại Galatasaray và ngay lập tức đánh bại Real Madrid của những Raul Gonzalez và Luis Figo để giành Siêu Cup châu Âu. Năm 2002, ông lập kỳ tích khi đưa Besiktas lên ngôi vô địch, trở thành HLV ngoại đầu tiên vô địch Thổ Nhĩ Kỳ với hai đội bóng kình địch cùng thành phố Istanbul. Người hâm mộ Thổ Nhĩ Kỳ tôn thờ Lucescu bởi sự lịch lãm, điềm tĩnh trước áp lực và trí tuệ.
Năm 2004, Lucescu cập bến Shakhtar Donetsk khi lọt vào mắt xanh của tỷ phú Rinat Akhmetov. "Ông ấy đã cố chiêu mộ tôi ba lần và lần nào tôi cũng từ chối", Lucescu kể lại trên báo Italy
Gazzetta dello Sport
. "Đến lần thứ tư, ông ấy cử chuyên cơ riêng tới đón. Khi vừa hạ cánh xuống Donetsk, ông ấy giới thiệu tôi luôn là tân HLV đội bóng. Tôi còn biết làm gì khác đây!".
Nhưng lúc đó, ít ai tin rằng Lucescu có thể biến đội bóng vùng mỏ ở miền đông Ukraine thành thế lực tại trời Âu. Nhưng ông đã làm được điều đó cho Shakhtar bằng chiến lược táo bạo: chiêu mộ các tài năng trẻ Brazil, rèn giũa họ về mặt chiến thuật để tạo nên một tập thể "nhảy Samba trên nhịp điệu Đông Âu".
Tình cảm của Lucescu dành cho bóng đá lẫn các cầu thủ Brazil đã nảy nở từ dịp Giáng sinh 1967. Bấy giờ, ông vẫn còn là một tiền đạo cánh 22 tuổi. Sau một trận giao hữu tại Congo, khi chuẩn bị bay về Romania, ông nhận được lệnh khẩn khi lên chuyến bay dài sang Brazil để hội quân cùng ĐTQG trong chuyến du đấu Nam Mỹ.
"Tôi đã đi dọc Brazil từ Nam chí Bắc, từ Porto Alegre đến Fortaleza", Lucescu kể lại năm 2013 về cú sốc văn hóa trong cuộc phỏng vấn trên tạp chí Pháp
France Football
. "Đó là trải nghiệm không thể tin nổi. Hãy tưởng tượng sự ngưỡng mộ và mê hoặc mà một chàng trai đến từ một quốc gia Đông Âu cảm thấy khi đặt chân đến một thế giới mà trước đó anh ta chỉ biết qua bản đồ"
"Tôi đã khám phá ra bản chất của con người Brazil, chính là bóng đá, samba, bãi biển và tình dục. Tôi hiểu tại sao bấy nhiêu đó là đủ để họ sống hạnh phúc. Mọi thứ đều xoay quanh những điều ấy. Và tôi cũng không thể quên Brahma Chopp, loại bia tuyệt vời nhất ở đó. Sau này, tôi vẫn thường uống nó cùng Ronaldo de Lima khi dẫn dắt cậu ấy tại Inter cuối những năm 1990", Lucescu kể.
Mircea Lucescu (trái) nâng cao chiếc Cup UEFA cùng chủ sở hữu Shakhtar Donetsk Rinat Akhmetov, sau khi đánh bại Werder Bremen trong trận chung kết năm 2009. Ảnh:
Reuters
Shakhtar thời Lucescu luôn là đối thủ khó nhằn tại Champions League, với lối chơi tấn công biến hóa như tắc kè hoa. Ông linh hoạt áp dụng nhiều sơ đồ chiến thuật, buộc các cầu thủ phải tư duy về nhiều cách chơi khác nhau. Trong 12 năm gắn bó, ông mang về cho Shakhtar 22 danh hiệu, trong đó có 8 chức VĐQG và đỉnh cao chiếc Cup UEFA 2009. Dưới bàn tay nhào nặn của Lucescu, những Fernandinho, Willian hay Douglas Costa đều vươn tầm thế giới.
Ngay cả khi xung đột nổ ra tại Ukraine năm 2014 buộc đội bóng phải di tản, Lucescu vẫn tiếp tục giúp Shakhtar chiến thắng. Sau đó, ông dẫn dắt Zenit và ĐTQG Thổ Nhĩ Kỳ một thời gian ngắn, rồi gây sốc khi ký hợp đồng với Dinamo Kiev - đối trọng lớn nhất của Shakhtar - vào năm 2020 và lập tức đưa họ lên ngôi vô địch Ukraine.
Tình yêu bóng đá của Lucescu lớn đến mức ông không thể chấp nhận thất bại hay bỏ cuộc. Trước thềm chung kết play-off tranh vé vớt World Cup 2026 giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Romania, Lucescu còn tâm sự với báo Anh
Guardian
rằng dẫn dắt ĐTQG là "
trách nhiệm thiêng liêng
", và dù sức khỏe bấy giờ không được tốt, ông không thể rời đi như một kẻ hèn nhát.
Truyền thông Romania cho biết, việc không thể đưa Romania trở lại World Cup sau trận thua 0-1 đó đã khiến Lucescu tức giận tột độ. Đây cũng được cho là tác nhân chính dẫn đến những biến cố sức khỏe cuối cùng.
"Bóng đá Romania không chỉ mất đi một nhà chiến thuật lỗi lạc, mà còn mất đi một người thầy, một người có tầm nhìn xa trông rộng và một biểu tượng quốc gia, người đã đưa màu cờ sắc áo của chúng ta lên những đỉnh cao của thành công thế giới", LĐBĐ Romania viết trong thông báo về sự ra đi của Lucescu.
Hoàng Thông
tổng hợp






