GMT+7...
UTC...

Danh mục

Giải Trí

Sách lý giải chuyện tên đệm 'nam Văn, nữ Thị'

📅 15/1/2026👁️ 1 lượt xem⏱️ 12 phút đọc
Sách lý giải chuyện tên đệm 'nam Văn, nữ Thị'

Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức lý giải nguồn gốc việc đặt đệm ''Thị'' giữa họ và tên cho phụ nữ Việt, mẹo đặt tên xấu để được khỏe mạnh, trong sách nghiên cứu.

Tác giả có ý tưởng thực hiện ấn phẩm
Họ và tên
từ năm 2017, là công trình nghiên cứu thứ ba của anh, sau
Ngàn năm áo mũ
(2013) và
Chuyện trà - Lịch sử một thức uống lâu đời của người Việt
(2021). Trong tác phẩm, anh hệ thống quá trình phát triển họ, tên người Việt, gắn liền những biến động chính trị của các triều đại, làn sóng văn hóa cũng như lựa chọn của mỗi cá nhân.
Ở phần đầu -
Mộc mạc tới cầu kỳ,
nhà nghiên cứu lý giải một số chủ đề như quan niệm đặt tên xấu của người xưa, ý nghĩa của việc đặt tên trong một gia tộc. Theo tác giả, người Việt xưa tin rằng hễ tránh nhắc đến tên bệnh hoặc gọi tên các loài thú dữ thì sẽ được an toàn. Từ nỗi sợ vô hình, họ tưởng tượng trẻ con gầy yếu, quấy khóc hay đau ốm đều do ''ma làm'' và nghĩ ra những thuật kiêng kỵ phi logic, trong đó có mẹo đặt tên. Nhiều cái tên có phần hơi thô từng được đặt như Cóc, Chuột, Chấy, Đậu, Mè, Xấu, Bủng hay dựa vào tình trạng sinh nở của hai mẹ con là Nhanh, Muộn, Tõng, Tuột, Thụt. ''Hiện tượng đặt tên như vậy ở Việt Nam là phổ biến, dứt khoát không phải nhất thời'', Trần Quang Đức viết.
Từ thế kỷ thứ sáu, xu hướng đặt tên đơn dịch chuyển dần sang tên kép, gồm hai âm tiết, ghi bằng hai chữ Hán. Điều này thể hiện qua các nhân vật xuất hiện trong giai đoạn đầu khởi nghĩa của Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương gồm Lý Bôn, Tinh Thiều, Phạm Tu, Triệu Túc, Lý Phật Tử, Lý Phổ Đỉnh... Cục diện bắt đầu thay đổi từ quy định hộ tịch thời Lê Thánh Tông: người cùng một xã trùng họ nhưng không được trùng tên, nếu có phải đổi sang chữ Hán khác, tên họ chỉ dừng ở ba chữ.
Sách do Nhà xuất bản Thế giới liên kết Nhã Nam phát hành, ra mắt sáng 15/1 ở Hà Nội. Ảnh:
Nhã Nam
Sang phần hai
Mưu toan quyền lực,
tác giả đề cập việc ''thiêng hóa'' những cái tên, khẳng định vị thế của thủ lĩnh và vua chúa. Một trong những phương thức để họ giành quyền hiệu triệu, biện minh cho lý do sở hữu quyền lực tuyệt đối là ''tạo dựng cho bản thân một căn cước có tính thiêng'', chứng tỏ mình đủ tư cách đón nhận sứ mệnh từ trời. Ở bối cảnh xã hội nông nghiệp, con người không làm chủ được số phận mà thường dựa vào những niềm tin phi logic, việc liên kết tên với thần quyền có thể giúp thủ lĩnh, vua có được sự ủng hộ lớn từ đám đông, đảm bảo cho sự tôn nghiêm, bất khả xâm phạm của họ.
Tác giả trích dẫn
Đại Việt sử ký toàn thư
về việc đặt tên Ngô Quyền: ''Vương họ Ngô, tên là Quyền, người châu Đường Lâm, đời đời là quý tộc, cha tên Mân giữ chức châu mục. Vương sinh ra có ánh sáng lạ đầy nhà, dáng mạo đặc biệt, trên lưng có ba nốt ruồi, thầy tướng lấy làm lạ, bảo rằng có thể làm chủ một phương, bèn đặt tên là Quyền''.
Phần ba -
Hướng tới tự do
- bàn về ý thức bản ngã, việc xác lập giá trị nội tại của mỗi người. Một trong những nội dung được đề cập là tên đệm ''nam Văn nữ Thị'' trong vài chục năm trở lại đây dần bị nhiều người cho là quê mùa. Tuy nhiên, ''Thị'' từng có lịch sử phát triển lâu dài ở xã hội Việt Nam, vốn dĩ cả nam và nữ đều dùng.
Trần Quang Đức dẫn theo
Đại Việt sử ký toàn thư
: ''Mạc Kính Điển đưa Mạc thị Mậu hợp trở về thành Thăng Long''. Mạc Mậu Hợp là ông vua thứ năm của nhà Mạc, lúc đó 13 tuổi. Qua đó có thể hiểu trong suy nghĩ của tầng lớp trí thức tư duy bằng Hán văn trước đây, ''Thị'' xuất phát từ ''thị tộc'', đơn giản được hiểu là họ tộc, chẳng hạn Lê thị, Cao thị.
Tại sao cách gọi Họ Thị Tên không tiếp tục dành cho nam giới mà gắn liền nữ giới Việt? Qua khảo cứu của học giả Trần Bảo Lương, hầu hết phụ nữ Trung Quốc từ thời Hán đến Thanh sống với tư tưởng ''nam tôn nữ ti'' nên chỉ có tên tục ở nhà, không có tên chính thức, nếu có cũng không được để lộ, phần lớn lấy họ làm tên. Trong khi tại Việt Nam, ở hầu hết văn minh trên đồ đồng, đồ đá, tên tuổi phụ nữ Việt luôn hiện diện, lúc rải rác, khi dày đặc. Họ vẫn có vai trò và vị thế nhất định ở xã hội, bất luận thân phận tôn ti, không cần giấu tên hay kiêng húy. Theo nhà nghiên cứu Trần Quang Đức, khi văn hóa họ tên kiểu Hán, bao gồm việc gọi phụ nữ theo Họ kèm Thị tác động đến xã hội Việt, Họ - Thị - Tên dần trở thành ''căn cước đặc trưng của những phụ nữ cư tụ trong miền đất này''.
Năm 1986, ở bãi Rồng thuộc làng Thanh Mai (Thanh Oai, Hà Nội), người dân đào được quả chuông đồng nguyên vẹn, được đúc vào năm 798. Trên đó lưu lại danh tính khoảng 134 phụ nữ trong một tổ chức Phật giáo có tên hội Tùy Hỷ, không có ai khuyết húy danh. Điều thể hiện rõ nhất là hình thức Họ - Thị - Tên đơn chiếm đại đa số danh tính được ghi trên chuông. Sau này vẫn có phụ nữ mang tên kép, song hầu hết xuất thân quý tộc cung đình, hay có người không mang đệm Thị nhưng cũng hy hữu.
Để hoàn thành ấn phẩm, Trần Quang Đức tìm hiểu các tư liệu Hán Nôm Việt Nam, Quốc ngữ, Trung Quốc, phương Tây. Dù mang mục đích nghiên cứu, sách có văn phong dễ hiểu, điểm nổi bật là hệ thống chú giải chi tiết, hình ảnh minh họa phong phú. Ngoài ba phần chính, tác giả có thêm phụ lục giải thích ý nghĩa một số tên danh tự hiệu của vua quan, tên hoàng nữ, công nữ triều Nguyễn hay húy danh của những vị vua nhà Trần.
Ở lời giới thiệu, Trần Quang Đức viết: ''Đọc cuốn sách này, có thể bạn sẽ không chỉ bắt gặp hình bóng người Việt qua những lớp lang của tên gọi, phong tục, tư tưởng hay văn hóa, mà còn nhận ra chính mình trong dòng chảy rộng lớn của cộng đồng, của nhân loại''.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Sử cho biết khi đọc tác phẩm, nhiều lúc anh cảm thấy như đang đi cùng tác giả qua những ngôi làng cũ, bia đá rêu phong, nghe lại tiếng gọi nhau thô mộc trên đồng ruộng nhưng ẩn sau đó là một thế giới niềm tin, sợ hãi và khát vọng. Anh cho rằng
Họ và tên
không dừng lại ở hoài niệm từ sử liệu mà gợi mở một câu hỏi sâu xa hơn: ''Con người đã bao giờ thực sự làm chủ được vận mệnh của mình?".
Dịch giả, nhà nghiên cứu Trần Quang Đức sinh năm 1985 ở Hải Phòng, tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc năm 2008, hiện sống tại TP HCM. Ảnh:
Nhã Nam
Phương Linh

Bài viết nổi bật cùng chủ đề

Bức tranh bị lãng quên của Picasso trị giá 32 triệu euro
Giải Trí

Bức tranh bị lãng quên của Picasso trị giá 32 triệu euro

Tranh Picasso vẽ người tình Dora Maar được bán giá 32 triệu euro (37 triệu USD, gần 978 tỷ đồng) sau hơn 80 năm không xuất hiện trước công chúng.

📅 26/10/2025👁️ 214 lượt xem
VnExpress logoVnExpress