Thế Giới
Hơn 7 thập kỷ Iran từ đồng minh thành kẻ thù với Mỹ, Israel
📅 2/3/2026👁️ 1 lượt xem⏱️ 17 phút đọc

Iran từng là đồng minh với Mỹ và Israel, nhưng quỹ đạo quan hệ dần lao dốc và biến thành kẻ thù không đội trời chung sau Cách mạng Hồi giáo.
Trung Đông đang trở thành tiêu điểm chú ý, sau khi Mỹ và Israel cuối tuần trước hiệp đồng mở chiến dịch quy mô lớn nhằm vào Iran. Các vụ không kích đã gây thiệt hại đáng kể cho Tehran, châm ngòi cho phản ứng đáp trả mạnh mẽ nhằm vào Tel Aviv cùng các lợi ích của Washington tại khu vực.
Những diễn biến này được coi là sự bùng nổ của hàng chục năm căng thẳng giữa Iran với Israel và Mỹ. Đây là mối quan hệ phức tạp, kéo dài nhiều thập niên và các bên có thời điểm từng hòa hợp, trước khi mối thâm thù xuất hiện.
Tổng thống Mỹ Donald Trump (trái), Lãnh tụ Tối cao Iran Ali Khamenei (giữa) và Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu. Ảnh:
AFP
Vào những năm 1950-1970, Iran dưới thời quốc vương Mohammad Reza Pahlavi từng là một đối tác gần gũi với phương Tây và duy trì quan hệ tương đối ổn định với Israel.
Tình báo Mỹ năm 1953 đã phối hợp với Anh và phe bảo hoàng tiến hành cuộc đảo chính ở Iran, lật đổ Thủ tướng dân cử Mohammed Mossadegh, khôi phục ngai vàng cho quốc vương Pahlavi.
Hai bên sau đó trở thành đồng minh cả về kinh tế lẫn quân sự. Sự hỗ trợ của Mỹ giúp kinh tế Iran tăng trưởng ấn tượng trong thập niên 1960 và 1970.
Trong giai đoạn này, Iran coi Israel là cánh cửa để nhận sự ủng hộ và tài trợ lớn của Mỹ và quan hệ song phương trở nên thân thiết dựa trên hợp tác chặt chẽ về các vấn đề quân sự, công nghệ, nông nghiệp và dầu khí.
Nhưng đến giữa những năm 1970, Iran không còn được xem là đại diện cho lợi ích của Mỹ ở Trung Đông. Washington tỏ ra bất bình khi vua Pahlavi ủng hộ tăng giá dầu sau chiến tranh Arab - Israel năm 1973.
Với doanh thu từ dầu mỏ tăng, vua Pahlavi đã áp dụng chính sách độc lập và chủ động hơn về các vấn đề khu vực và tăng cường quan hệ với những nước Arab. Vua Pahlavi còn muốn sở hữu năng lực hạt nhân dân sự để có thể chấm dứt sự độc quyền vũ khí hạt nhân của Israel ở Trung Đông.
Năm 1975, vua Pahlavi ký thỏa thuận với Iraq, trong đó Baghdad nhất trí giải quyết tranh chấp tuyến đường thủy Shatt al-Arab theo hướng có lợi cho Iran để đối lấy việc Tehran ngừng hỗ trợ người Kurd chống chính phủ Iraq.
Israel, khi đó ủng hộ người Kurd ở Iraq, cảm thấy bị phản bội vì hành động này, mất niềm tin vào vua Pahlavi và không còn xem Iran như đồng minh. Israel xem cách tiếp cận mang tính hòa giải hơn của Iran đối với các phần tử cực đoan Arab có thể làm thay đổi cán cân quyền lực chống Israel. Tel Aviv luôn muốn duy trì căng thẳng giữa Iran và các nước Arab để hai bên tự kiềm chế lẫn nhau, tránh chĩa mũi dùi vào Israel.
Bước ngoặt diễn ra vào năm 1979, khi phong trào Cách mạng Hồi giáo do ông Ruhollah Khomeini dẫn dắt lật đổ chế độ Pahlavi, dẫn đến sự ra đời của Cộng hòa Hồi giáo Iran vào ngày 1/4/1979, sau một cuộc trưng cầu dân ý. Giá trị của Iran đối với Israel và Mỹ dần suy giảm.
Tháng 10/1979, Mỹ cho phép quốc vương Pahlavi nhập cảnh để điều trị ung thư, trong khi Iran đòi Mỹ giao ông này để xét xử và xử tử. Ngày 4/11, một nhóm sinh viên đại học Iran xông vào đại sứ quán Mỹ ở Tehran, bắt giữ 52 nhân viên đại sứ quán làm con tin trong 444 ngày.
Mỹ coi việc bắt con tin tại đại sứ quán ở Tehran là hành động vi phạm luật pháp quốc tế và mở chiến dịch giải cứu nhưng bất thành. Hai bên sau đó bắt đầu đàm phán thành công và các con tin được phóng thích năm 1980. Sự kiện được gọi là cuộc khủng hoảng con tin Iran, khiến quan hệ Tehran - Washington từ đối tác thành đối địch.
Vị trí Iran, Israel và một số quốc gia Trung Đông. Đồ họa:
DW
Quan hệ giữa Iran và Israel cũng đảo chiều sau Cách mạng Hồi giáo năm 1979. Trong các bài phát biểu đầu tiên, ông Khomeini chỉ ra hai kẻ thù chính của Iran là Mỹ và Israel.
Theo các nhà sử học, những người Hồi giáo dòng Shiite ở Iran từ lâu coi Israel là một quốc gia bất hợp pháp đã chiếm đoạt các vùng đất của người Hồi giáo, Arab và đuổi người Palestine ra khỏi quê hương xa xưa. Họ tin rằng Israel nên được thay thế bằng một nhà nước phi tôn giáo, trong đó người Hồi giáo và người Do Thái sống bình đẳng.
Với mục tiêu mở rộng ảnh hưởng của Iran trong thế giới Hồi giáo và hợp pháp hóa quyền lực của giới giáo sĩ, ông Khomeini, người đã viết nhiều tác phẩm chống chủ nghĩa Phục quốc Do Thái, đã xác định Iran là "bên bảo vệ chính nghĩa" cho người Palestine và chống lại kẻ thù chính Israel. Khomeini nhấn mạnh Israel là quốc gia mà ông muốn "biến mất" nhằm "giải phóng Jerusalem".
Quan điểm bài Do Thái của ông Khomeini đã được cựu tổng thống Akbar Hashemi Rafsanjani và Lãnh tụ Tối cao kế nhiệm Ali Khamenei tiếp nối. Ông Rafsanjani đã xuất bản cuốn sách "Israel và Jerusalem yêu dấu", tuyên bố chống nhà nước Do Thái là nghĩa vụ thiêng liêng của "mỗi người Hồi giáo và bất cứ ai tin vào Thượng đế".
Năm 1982, Khomeini thành lập lực lượng dân quân Hồi giáo Hezbollah ở Lebanon, quốc gia Arab có cộng đồng người Shiite đông đảo. Mục tiêu của Hezbollah là chống lại Israel, nước đã đưa quân vào miền nam Lebanon năm 1982 và chiếm đóng cho đến năm 2000.
Iran sau này còn ủng hộ các nhóm vũ trang khác, như Hamas ở Gaza hay Houthi ở Yemen, để thành lập nên cái gọi là "Trục Kháng chiến" đối phó ảnh hưởng của Mỹ và Israel tại Trung Đông.
Giữa những năm 1990, Israel ngày càng lo ngại về khả năng Iran nối lại chương trình hạt nhân, vốn bị gián đoạn sau cuộc cách mạng năm 1979. Dù Iran nhiều lần phủ nhận, Israel vẫn cho rằng nước này đang tìm cách chế tạo vũ khí hạt nhân. Vấn đề hạt nhân Iran kể từ đó đã được các đời thủ tướng Israel coi là mối đe dọa hàng đầu trong khu vực.
Israel cũng tham gia cuộc đua giành ảnh hưởng với Iran ở các nước thuộc Liên Xô cũ, đặc biệt là Azerbaijan, và thiết lập liên minh với Baku chống Tehran. Trong khi đó, Iran mở rộng ảnh hưởng ở các quốc gia gần Israel, đặc biệt là Syria.
Vào đầu những năm 2000, căng thẳng gia tăng khi Iran đạt tiến bộ trong phát triển tên lửa đạn đạo tầm xa có khả năng mang đầu đạn hạt nhân. Việc tổng thống Mahmoud Ahmadinejad với tư tưởng cực kỳ bảo thủ lên nắm quyền ở Iran vào năm 2005 đã đẩy quan hệ giữa hai nước xuống mức thấp chưa từng có.
Israel và Iran bắt đầu coi nhau là kẻ thù "không đội trời chung" ở Trung Đông, tuyên bố sẵn sàng xóa bỏ đối phương khỏi bản đồ. Israel nhiều lần bị cáo buộc tập kích, tấn công mạng và tổ chức ám sát tại Iran, trong khi Tehran hậu thuẫn "Trục Kháng chiến" đối đầu với Tel Aviv trên nhiều lĩnh vực.
Người dân Iran tuần hành thể hiện sự ủng hộ chính phủ tại Tehran ngày 12/1. Ảnh:
AFP
Những năm gần đây, vấn đề hạt nhân của Iran ngày càng đẩy quan hệ giữa nước này với Mỹ và Israel xuống đáy. Mỹ và Israel cho rằng chương trình hạt nhân của Iran là mối đe dọa mang tính sống còn, trong khi Tehran bác bỏ, khẳng định phát triển hạt nhân vì mục đích hòa bình.
Năm 2015, Mỹ dưới thời Barack Obama cùng các cường quốc phương Tây đã đạt thỏa thuận JCPOA với Iran, trong đó Tehran chấp nhận hạn chế chương trình hạt nhân để được dỡ bớt lệnh trừng phạt. Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đã phản ứng gay gắt, cho rằng điều này không thể ngăn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân.
Khi ông Donald Trump đắc cử tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ nhất, ông không che giấu quan điểm ủng hộ Israel, hứa hẹn sẽ đưa Mỹ thoát khỏi "thỏa thuận tồi tệ nhất từ trước đến nay". Ông Trump sau đó rút Mỹ khỏi thỏa thuận, Iran không còn bị hạn chế làm giàu uranium và cũng đã chuyển sang xây dựng lại cơ sở hạt nhân, càng làm gia tăng căng thẳng với Israel.
Sau nhiều năm không hành động, Israel tháng 6/2025 vượt "lằn ranh đỏ", mở chiến dịch "Sư tử Trỗi dậy", không kích phủ đầu vào loạt cơ sở hạt nhân Iran. Chiến dịch có sự phối hợp của Mỹ, gây hư hại đáng kể cho các cơ sở hạt nhân trọng yếu của Iran, khiến nhiều chỉ huy quân sự và nhà khoa học hạt nhân nước này thiệt mạng.
Ông Trump sau đó tái nhấn mạnh Iran phải chấm dứt làm giàu uranium, từ bỏ tham vọng phát triển vũ khí hạt nhân và hạn chế phát triển tên lửa. Hai bên những tháng gần đây đã nối lại đàm phán, trong bối cảnh Washington đưa lượng lớn khí tài đến Trung Đông để gây sức ép.
Ngày 28/2, hai ngày sau khi vòng đàm phán hạt nhân thứ ba kết thúc tại Thụy Sĩ, Mỹ và Israel một lần nữa không kích Iran, bất chấp tiến trình ngoại giao được bên trung gian Oman mô tả "cận kề một thỏa thuận". Lần này, họ đã khiến Iran tổn thất nặng nề, khi hàng chục lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao thiệt mạng, trong đó có Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei.
Như Tâm
(Theo
AFP, Reuters, DW
)
Những diễn biến này được coi là sự bùng nổ của hàng chục năm căng thẳng giữa Iran với Israel và Mỹ. Đây là mối quan hệ phức tạp, kéo dài nhiều thập niên và các bên có thời điểm từng hòa hợp, trước khi mối thâm thù xuất hiện.
Tổng thống Mỹ Donald Trump (trái), Lãnh tụ Tối cao Iran Ali Khamenei (giữa) và Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu. Ảnh:
AFP
Vào những năm 1950-1970, Iran dưới thời quốc vương Mohammad Reza Pahlavi từng là một đối tác gần gũi với phương Tây và duy trì quan hệ tương đối ổn định với Israel.
Tình báo Mỹ năm 1953 đã phối hợp với Anh và phe bảo hoàng tiến hành cuộc đảo chính ở Iran, lật đổ Thủ tướng dân cử Mohammed Mossadegh, khôi phục ngai vàng cho quốc vương Pahlavi.
Hai bên sau đó trở thành đồng minh cả về kinh tế lẫn quân sự. Sự hỗ trợ của Mỹ giúp kinh tế Iran tăng trưởng ấn tượng trong thập niên 1960 và 1970.
Trong giai đoạn này, Iran coi Israel là cánh cửa để nhận sự ủng hộ và tài trợ lớn của Mỹ và quan hệ song phương trở nên thân thiết dựa trên hợp tác chặt chẽ về các vấn đề quân sự, công nghệ, nông nghiệp và dầu khí.
Nhưng đến giữa những năm 1970, Iran không còn được xem là đại diện cho lợi ích của Mỹ ở Trung Đông. Washington tỏ ra bất bình khi vua Pahlavi ủng hộ tăng giá dầu sau chiến tranh Arab - Israel năm 1973.
Với doanh thu từ dầu mỏ tăng, vua Pahlavi đã áp dụng chính sách độc lập và chủ động hơn về các vấn đề khu vực và tăng cường quan hệ với những nước Arab. Vua Pahlavi còn muốn sở hữu năng lực hạt nhân dân sự để có thể chấm dứt sự độc quyền vũ khí hạt nhân của Israel ở Trung Đông.
Năm 1975, vua Pahlavi ký thỏa thuận với Iraq, trong đó Baghdad nhất trí giải quyết tranh chấp tuyến đường thủy Shatt al-Arab theo hướng có lợi cho Iran để đối lấy việc Tehran ngừng hỗ trợ người Kurd chống chính phủ Iraq.
Israel, khi đó ủng hộ người Kurd ở Iraq, cảm thấy bị phản bội vì hành động này, mất niềm tin vào vua Pahlavi và không còn xem Iran như đồng minh. Israel xem cách tiếp cận mang tính hòa giải hơn của Iran đối với các phần tử cực đoan Arab có thể làm thay đổi cán cân quyền lực chống Israel. Tel Aviv luôn muốn duy trì căng thẳng giữa Iran và các nước Arab để hai bên tự kiềm chế lẫn nhau, tránh chĩa mũi dùi vào Israel.
Bước ngoặt diễn ra vào năm 1979, khi phong trào Cách mạng Hồi giáo do ông Ruhollah Khomeini dẫn dắt lật đổ chế độ Pahlavi, dẫn đến sự ra đời của Cộng hòa Hồi giáo Iran vào ngày 1/4/1979, sau một cuộc trưng cầu dân ý. Giá trị của Iran đối với Israel và Mỹ dần suy giảm.
Tháng 10/1979, Mỹ cho phép quốc vương Pahlavi nhập cảnh để điều trị ung thư, trong khi Iran đòi Mỹ giao ông này để xét xử và xử tử. Ngày 4/11, một nhóm sinh viên đại học Iran xông vào đại sứ quán Mỹ ở Tehran, bắt giữ 52 nhân viên đại sứ quán làm con tin trong 444 ngày.
Mỹ coi việc bắt con tin tại đại sứ quán ở Tehran là hành động vi phạm luật pháp quốc tế và mở chiến dịch giải cứu nhưng bất thành. Hai bên sau đó bắt đầu đàm phán thành công và các con tin được phóng thích năm 1980. Sự kiện được gọi là cuộc khủng hoảng con tin Iran, khiến quan hệ Tehran - Washington từ đối tác thành đối địch.
Vị trí Iran, Israel và một số quốc gia Trung Đông. Đồ họa:
DW
Quan hệ giữa Iran và Israel cũng đảo chiều sau Cách mạng Hồi giáo năm 1979. Trong các bài phát biểu đầu tiên, ông Khomeini chỉ ra hai kẻ thù chính của Iran là Mỹ và Israel.
Theo các nhà sử học, những người Hồi giáo dòng Shiite ở Iran từ lâu coi Israel là một quốc gia bất hợp pháp đã chiếm đoạt các vùng đất của người Hồi giáo, Arab và đuổi người Palestine ra khỏi quê hương xa xưa. Họ tin rằng Israel nên được thay thế bằng một nhà nước phi tôn giáo, trong đó người Hồi giáo và người Do Thái sống bình đẳng.
Với mục tiêu mở rộng ảnh hưởng của Iran trong thế giới Hồi giáo và hợp pháp hóa quyền lực của giới giáo sĩ, ông Khomeini, người đã viết nhiều tác phẩm chống chủ nghĩa Phục quốc Do Thái, đã xác định Iran là "bên bảo vệ chính nghĩa" cho người Palestine và chống lại kẻ thù chính Israel. Khomeini nhấn mạnh Israel là quốc gia mà ông muốn "biến mất" nhằm "giải phóng Jerusalem".
Quan điểm bài Do Thái của ông Khomeini đã được cựu tổng thống Akbar Hashemi Rafsanjani và Lãnh tụ Tối cao kế nhiệm Ali Khamenei tiếp nối. Ông Rafsanjani đã xuất bản cuốn sách "Israel và Jerusalem yêu dấu", tuyên bố chống nhà nước Do Thái là nghĩa vụ thiêng liêng của "mỗi người Hồi giáo và bất cứ ai tin vào Thượng đế".
Năm 1982, Khomeini thành lập lực lượng dân quân Hồi giáo Hezbollah ở Lebanon, quốc gia Arab có cộng đồng người Shiite đông đảo. Mục tiêu của Hezbollah là chống lại Israel, nước đã đưa quân vào miền nam Lebanon năm 1982 và chiếm đóng cho đến năm 2000.
Iran sau này còn ủng hộ các nhóm vũ trang khác, như Hamas ở Gaza hay Houthi ở Yemen, để thành lập nên cái gọi là "Trục Kháng chiến" đối phó ảnh hưởng của Mỹ và Israel tại Trung Đông.
Giữa những năm 1990, Israel ngày càng lo ngại về khả năng Iran nối lại chương trình hạt nhân, vốn bị gián đoạn sau cuộc cách mạng năm 1979. Dù Iran nhiều lần phủ nhận, Israel vẫn cho rằng nước này đang tìm cách chế tạo vũ khí hạt nhân. Vấn đề hạt nhân Iran kể từ đó đã được các đời thủ tướng Israel coi là mối đe dọa hàng đầu trong khu vực.
Israel cũng tham gia cuộc đua giành ảnh hưởng với Iran ở các nước thuộc Liên Xô cũ, đặc biệt là Azerbaijan, và thiết lập liên minh với Baku chống Tehran. Trong khi đó, Iran mở rộng ảnh hưởng ở các quốc gia gần Israel, đặc biệt là Syria.
Vào đầu những năm 2000, căng thẳng gia tăng khi Iran đạt tiến bộ trong phát triển tên lửa đạn đạo tầm xa có khả năng mang đầu đạn hạt nhân. Việc tổng thống Mahmoud Ahmadinejad với tư tưởng cực kỳ bảo thủ lên nắm quyền ở Iran vào năm 2005 đã đẩy quan hệ giữa hai nước xuống mức thấp chưa từng có.
Israel và Iran bắt đầu coi nhau là kẻ thù "không đội trời chung" ở Trung Đông, tuyên bố sẵn sàng xóa bỏ đối phương khỏi bản đồ. Israel nhiều lần bị cáo buộc tập kích, tấn công mạng và tổ chức ám sát tại Iran, trong khi Tehran hậu thuẫn "Trục Kháng chiến" đối đầu với Tel Aviv trên nhiều lĩnh vực.
Người dân Iran tuần hành thể hiện sự ủng hộ chính phủ tại Tehran ngày 12/1. Ảnh:
AFP
Những năm gần đây, vấn đề hạt nhân của Iran ngày càng đẩy quan hệ giữa nước này với Mỹ và Israel xuống đáy. Mỹ và Israel cho rằng chương trình hạt nhân của Iran là mối đe dọa mang tính sống còn, trong khi Tehran bác bỏ, khẳng định phát triển hạt nhân vì mục đích hòa bình.
Năm 2015, Mỹ dưới thời Barack Obama cùng các cường quốc phương Tây đã đạt thỏa thuận JCPOA với Iran, trong đó Tehran chấp nhận hạn chế chương trình hạt nhân để được dỡ bớt lệnh trừng phạt. Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đã phản ứng gay gắt, cho rằng điều này không thể ngăn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân.
Khi ông Donald Trump đắc cử tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ nhất, ông không che giấu quan điểm ủng hộ Israel, hứa hẹn sẽ đưa Mỹ thoát khỏi "thỏa thuận tồi tệ nhất từ trước đến nay". Ông Trump sau đó rút Mỹ khỏi thỏa thuận, Iran không còn bị hạn chế làm giàu uranium và cũng đã chuyển sang xây dựng lại cơ sở hạt nhân, càng làm gia tăng căng thẳng với Israel.
Sau nhiều năm không hành động, Israel tháng 6/2025 vượt "lằn ranh đỏ", mở chiến dịch "Sư tử Trỗi dậy", không kích phủ đầu vào loạt cơ sở hạt nhân Iran. Chiến dịch có sự phối hợp của Mỹ, gây hư hại đáng kể cho các cơ sở hạt nhân trọng yếu của Iran, khiến nhiều chỉ huy quân sự và nhà khoa học hạt nhân nước này thiệt mạng.
Ông Trump sau đó tái nhấn mạnh Iran phải chấm dứt làm giàu uranium, từ bỏ tham vọng phát triển vũ khí hạt nhân và hạn chế phát triển tên lửa. Hai bên những tháng gần đây đã nối lại đàm phán, trong bối cảnh Washington đưa lượng lớn khí tài đến Trung Đông để gây sức ép.
Ngày 28/2, hai ngày sau khi vòng đàm phán hạt nhân thứ ba kết thúc tại Thụy Sĩ, Mỹ và Israel một lần nữa không kích Iran, bất chấp tiến trình ngoại giao được bên trung gian Oman mô tả "cận kề một thỏa thuận". Lần này, họ đã khiến Iran tổn thất nặng nề, khi hàng chục lãnh đạo quân sự và chính trị cấp cao thiệt mạng, trong đó có Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei.
Như Tâm
(Theo
AFP, Reuters, DW
)






